Văn mẫu hay lớp 11

Đề bài: Sự hòa quyện giữa cổ điển và hiện đại trong bài thơ ” Tràng Giang “

Đề bài: Sự hòa quyện giữa cổ điển và hiện đại trong bài thơ ” Tràng Giang “

Bài làm

Đã có người từng nói rằng : ” Thơ mới đã tạo nên dàn đồng ca của nỗi buồn ” : Buồn là tâm trạng chung của các nhà thơ mới trong phong trào.Thơ mới là điệu hồn đặc trưng của thơ Huy Cận trước cách mạng. Ở Huy Cận đó là nỗi buồn vũ trụ, nỗi sầu vạn kỷ, mênh mang vời vợi, rộng lớn. Bài thơ ” Tràng Giang ” chính là hiện thân cho những nỗi buồn đó.Bài thơ được trích từ tập thơ ” Lửa Thiêng ” được sáng tác vào 1939, cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước.Đoạn thơ thuộc khổ 1 của tập thơ đó là cảm xúc của nhân vật trữ tình trước cách mạng.

de bai su hoa quyen giua co dien va hien dai trong bai tho trang giang - Đề bài: Sự hòa quyện giữa cổ điển và hiện đại trong bài thơ " Tràng Giang "

Ngay mở đầu dòng thơ thứ nhất hình ảnh con sông dài và rộng được nhà thơ lấy làm cảm hứng đã được thực hiện ở cách sử dụng từ hán việt ” Tràng Giang “. Hai chữ “tràng giang” mang tính cổ điển mà trang nhã, là từ Hán Việt, gợi cho ta đên những bài thơ Đường thi có màu sắc xưa cũ, cổ kính. Nhưng nếu các thi nhân xưa đến với thiên nhiên để tìm sự giao cảm thì nhà thơ hiện đại Huy Cận lại đứng trước “Tràng Giang” để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bã trước kiếp người nhỏ bé cô đơn.

Với khổ thơ đầu tiên:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Đặc biệt  từ láy “điệp điệp” và “song song” đã tạo nên âm hưởng cổ kính cho bài thơ. Giữa cái bao la,bát ngát của sóng nước là hình ảnh của một “Con thuyền xuôi mái”. Thuyền và nước thường đi đôi với nhau nhưng ở đây “thuyền về nước lại” nghe sao xót xa. Câu thơ cuối “Củi một cành khô lạc mấy dòng” cho ta thấy được sự cô đơn lẻ loi đến lạc lõng giữa vũ trụ bao la. Nét đẹp cổ điển của khổ thơ được thể hiện qua ngòi bút đặc sắc của tác giả, chỉ bằng vài nét chấm phá đơn sơ đã gợi được lên hồn cốt của tạo vật.Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn thấy được nét đẹp hiện đại của khổ thơ, đó là hình ảnh độc đáo không ước lệ “củi một cành khô”, hình ảnh thâu tóm ý tưởng chủ đạo cả khổ thơ, hé mở tâm trang nhân vật trữ tình cô đơn, lac lõng.

Xem thêm:  Phân tích và nêu cảm nghĩ của mình về truyện ngắn Người trong bao của Sê khốp

Khổ thơ tiếp:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Từ láy được tác giả  Huy Cận sử dụng dày đặc “lơ thơ” “đìu hiu”, “chót vót” cùng với việc sử dụng hình ảnh đối lập “nắng xuông- trời lên”, “sông dài- trời rộng” là thủ pháp nghệ thuật trong lối thơ cổ. Vẻ đẹp cổ điển còn hiện ra qua các thi liệu quen thuộc như sông, trời còn cuộc sống con người thì cô đơn, buồn bã. Cái mới mẻ ở đây là cách diễn đạt qua hình ảnh chuyển đổi cảm giác của tác giả khi mà “nắng xuống trời lên” lại “sâu chót vót”, gợi lên cho ta cái mở rộng về thời gian, không gian để rồi thấy rõ hơn cái nhỏ bé cô đơn của con người.

Ở khổ thơ thứ ba:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

“Bèo” là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người trôi nổi thường được sử dụng trong những bài thơ cổ điển. Ở đây, bèo không chỉ có một cánh mà “hàng nối hàng” rợn ngợp. Cảnh vật ở đây hiu quạnh đến vô cùng. Cụm kết cấu “không… không” nhấn mạnh điều đó. Giữa không giang mênh mông rợn ngợp giường như heo hắt không có sự sống, chỉ có “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Xem thêm:  Hiện tượng “Fan cuồng” thần tượng trong giới trẻ hiện nay-nghị luận

Nhân vật trữ tình lại tiếp tục đối mặt với không gian mênh mông.Tâm trạng của thi thi không chỉ là nỗi buồn trước không gian mà còn là nỗi nhớ về quê hương.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

“Từ láy ” lớp ” đặt ở đầu câu dòng thơ miêu tả hình ảnh mây trắng tầng tầng,lớp lớp tạo nên những núi mây. Bút pháp gợi tả cùng từ láy “lớp lớp” cho thấy được hình ảnh sống động của núi mây. Ở đây tác giả vận dụng rất tài tình động từ “đùn” khiến cho từng lớp mây như đang chuyển động. Hình ảnh này rất độc đáo, mang vẻ đẹp hiện đại. Ở câu thơ sau, “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình ảnh “chiêm nghiêng cánh” và “bóng chiều” cũng là những hình ảnh quen thuộc của thơ ca cổ điển. Câu thơ tả không gian nhưng gơi được cả thời gian. Giữa khung cảnh đó là một tâm hồn rất hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

“Dợn dợn” là một từ láy độc đáo của Huy Cận mà trước đó chưa ai sử dụng. Kết hơp cùng với cụm từ “vời con nươc” khiến cho “lòng quê” càng thêm hiu quanh.  Nét khác biệt đó làm nên vẻ đẹp hiện đại của câu thơ.

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

Ngoài ra bài thơ “Tràng Giang” mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại thể hiện ở thể loại thơ và bút pháp mà tác giả sử dụng. Thể loại thơ ở đây là thơ 7 chữ với lối ngắt nhịp đăng đối nhuần nhuyễn. Song, “Tràng Giang” cũng rất mới qua những từ ngữ giãi bày cảm xúc cá nhân

“Tràng Giang” là một bức tranh về phong cảnh mà còn là một bản nhạc về tâm hồn. Nét thi vị của bài thơ là ở vẻ đẹp cổ điển và hiện đại luôn hòa quyện, sóng đôi. Nét đẹp của bài thơ sẽ mãi đi vào lòng người, để rồi qua vẻ đẹp đó ta thấy được một tấm lòng yêu nước thầm kín, một tài hoa rực sáng của thi ca.

Post Comment